Showing posts with label kien-thuc. Show all posts
Showing posts with label kien-thuc. Show all posts

Friday, August 13, 2010

Động cơ Diezel

DIESEL LÀ GÌ???
Động cơ Diesel là một loại động cơ đốt trong, khác với động cơ xăng (hay động cơ Otto). Sự cháy của nhiên liệu, tức dầu diesel, xảy ra trong buồng đốt khi piston đi tới gần điểm chết trên trong kỳ nén, là sự tự cháy dưới tác động của nhiệt độ và áp suất cao của không khí nén.
Động cơ Diesel do một kỹ sư người Đức, ông Rudolf Diesel, phát minh ra vào năm 1892. Chu trình làm việc của động cơ cũng được gọi là chu trình Diesel.
Do những ưu việt của nó so với động cơ xăng, như hiệu suất động cơ cao hơn hay nhiên liệu diesel rẻ tiền hơn xăng, nên động cơ Diesel được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, đặc biệt trong ngành giao thông vận tải thủy và vận tải bộ.

Dầu diesel
là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hoả (kesosene) và dầu bôi trơn (lubricating oil). Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ 175 đến 370 độ C. Các nhiên liệu Diesel nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi 315 đến 425 độ C còn gọi là dầu Mazut (Fuel oil).
Dầu Diesel được đặt tên theo nhà sáng chế Rudolf Diesel, và có thể được dùng trong loại động cơ đốt trong mang cùng tên, động cơ Diesel.


Các thông số kỹ thuật của dầu Diesel
Các tiêu chuẩn chất lượng của nhiên liệu Diesel
Loại nhiên liệu Diesel
Phương pháp thử
DO
0,5% S
DO
1,0% S
1.Chỉ số cetan
≥ 50
≥ 45
ASTM D 976
2.Thành phần chưng cất, t °C

50% được chưng cất ở
280 °C
280 °C
TCVN
90% được chưng cất ở
370 °C
370 °C
2693–95
3. Độ nhớt động học ở 20 °C
(đơn vị cSt: xenti-Stock)
1,8 ÷ 5,0
1,8 ÷ 5,0
ASTM D 445
4. Hàm lượng S (%)
≤ 0,5
≤ 1,0
ASTM D 2622
5. Độ tro (% kl)
≤ 0,01
≤ 0,01
TCVN 2690–95
6. Độ kết cốc (%)
≤ 0,3
≤ 0,3
TCVN6 324–97
7.Hàm lượng nước, tạp chất cơ học (% V)
≤ 0,05
≤ 0,05
TCVN 2693–95
8. Ăn mòn mảnh đồng ở 50 °C trong 3 giờ
N0 1
N0 1
TCVN 2694–95
9. Nhiệt độ đông đặc, t °C
≤ 5
≤ 5
TCVN 3753–95
10. Tỷ số A/F
14,4
14,4


NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG CƠ DIESEL 4 KỲ
1. Kỳ một- Kỳ nạp:
Pittông còn nằm ở ĐCT. Lúc này trong thể tích buồng cháy Vc còn đầy khí sót của chu trình trước, áp suất khí sót bên trong xilanh cao hơn áp suất khí quyển. Khi trục khuỷu quay, thanh truyền làm chuyển dịch pittông từ ĐCT đến ĐCD, xuppap nạp mở thông xilanh với đường ống nạp. Cùng với sự tăng tốc của pittông, áp suất môi chất trong »
pk Thể tích không gian trong xilanh trở nên nhỏ dần hơn so với áp suất trên đường ống nạp pk ( 0,01- 0,03Mpa). Sư giảm áp suất bên trong xilanh so với áp suất của đường ống nạp tạo nên quá trình nạp (hút) môi chất mới (không khí) từ đường ống nạp vào xilanh. Áp suất môi chất đối với động cơ bằng với áp suất khí quyển.
2. Kỳ hai- kỳ nén:
Pittông chuyển dịch từ ĐCD đến ĐCT, các xupap hút và xả đều đóng, môi chất bên trong xilanh bi nén lại. Cuối kỳ nạp khi pittông còn ở tại ĐCD, áp suất môi chất bên trong xilanh pa còn nhỏ hơn pk. Đầu kỳ nén, pittông từ ĐCD đến ĐCT khi tới điểm a’ áp suất bên trong xilanh mới đạt tới giá trị pk. Do đó, để hoàn thiện quá trình nạp người ta vẫn để xupap nạp tiếp tục mở . Việc đóng xupap nạp là nhằm để lợi dụng sự chênh áp giữa xilanh và đường ống nạp cũng như động năng của dòng khí đang lưu động trên đường ống nạp để nạp thêm môi chất mới vào xilanh. Sau khi đóng xupap nạp, chuyển động đi lên của pittông sẽ làm áp suất và nhiệt độ của môi chất tiếp tục tăng lên. Giá trị của áp suất cuối quá trình nén, phụ thuộc vào tỷ số , độ kín của buồng đốt, mức độ tản nhiệt của thành vách xilanh . Việc tự bốc cháy của hỗn hợp khí phải cần một thời gian nhất định, mặc dù rất ngắn. Muốn sử dụng tốt nhiệt lượng do nhiên liêu cháy sinh ra thì điểm bắt đầu và điểm kết thúc quá trình cháy phía ở lân cận ĐCT. Do đó việc phun nhiên liệu vào xilanh động cơ đều được thực hiện trước khi pittông đến ĐCT.
3. Kỳ ba- kỳ cháy và giãn nở:
Đầu kỳ cháy và giãn nở, hỗn hợp không khí-nhiên liệu được tạo ra ở cuối quá trình nén được bốc cháy nhanh. Do có một nhiệt lượng lớn được toả ra, làm nhiệt độ và áp suất môi chất tăng mạnh, mặt dù thể tích làm việc có tăng lên chút ít. Dưới tác dụng đẩy của lực do áp suất môi chất tạo ra, pittông tiếp tục đẩy xuống thực hiện quá trình giãn nở của môi chất trong xilanh. Trong quá trình giãn nở môi chất đẩy pittông sinh công, do đó kỳ cháy và giãn nở được gọi là hành trình công tác (sinh công).

4. Kỳ bốn- kỳ thải:


Kỳ thải trong kỳ này, động cơ thực hiện quá trình xả sạch khí thải ra khỏi xilanh. Pittônng chuyển dịch từ ĐCD đến ĐCT đẩy khí thải ra khỏi xilanh qua đường xupap thải đang mở vào đường ống thải, do áp suất bên trong xilanh ở cuối quá trình thải còn khá cao, nên xupap xả bắt đầu mở khi pittông còn cách ĐCD 430 góc quay của trục khuỷu. nhờ vậy, giảm được lực cản đối với pittông trong quá trình thải khí và nhờ sự chênh áp lớn tạo sự thoát khí dễ dàng từ xilanh ra đường ống thải, cải thiện được việc quét sạch khí thải ra khỏi xilanh động cơ. Kỳ thải kết thúc chu trình công tác, tiếp theo pittông sẽ lặp lại kỳ nạp theo trình tự chu trình công tác động cơ nói trên. Để thải sạch sản phẩm cháy ra khỏi xilanh, xupap xả không đóng tại vị trí ĐCT mà chậm hơn một chút, sau khi pittông qua khỏi ĐCT 170 góc quay trục khuỷu, nghĩa là khi đã bắt đầu kỳ một. Để giảm sức cản cho quá trình nạp, nghĩa là cửa nạp phải được mở dần trong khi pittông đi xuống trong kỳ một, xupap nạp cũng được mở sớm một chút trước khi pittông đến điểm chết trên 170 góc quay trục khuỷu. Như vậy vào cuối kỳ thải và đầu kỳ nạp cả hai xupap nạp và xả đều mở Tóm lại, quá trình động cơ thực hiện hoàn thiện bốn kỳ xem như là quá trình làm việc của động cơ diesel bốn kỳ nói chung.

NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG CƠ DIESEL 2 KỲ
Theo nguyên lý hoạt động của động cơ 2 kỳ sẽ cho thấy sự khác biệt rất lớn trong việc sản sinh công giữa động cơ 2 kỳ và 4 kỳ. Trong động cơ 2 kỳ 1 chu kỳ quay Buzi đánh lửa 2 lần (đánh lửa mỗi một chu trình quay của trục khuỷu). Ngược lại, ở động cơ 4 kỳ buzi chỉ đánh lửa khi trục khuỷu thực hiện được hai chu trình quay. Điều đó nghĩa là, xét về mặt năng lượng với hai động cơ cùng kích thước, động cơ 2 kỳ sản sinh công gấp hai lần động cơ 4 kỳ.

Phương pháp dùng nhiên liệu Diesel, chỉ nén không khí sau đó phun trực tiếp nhiên liệu vào khí nén áp xuất cao rất phù hợp cho động cơ 2 kỳ. Các nhà sản xuất động cơ Diesel cỡ lớn hiện nay đang sử dụng phương pháp này để tạo ra các động cơ mạnh mẽ hơn.

Tại điểm chết trên, có 2 hoặc 4 van xả ( Xu páp) luôn mở cùng một lúc. Phun nhiên liệu Diesel vào buồng đốt được thực hiện do kim phun (xem hình mầu vàng). Khi piston di chuyển xuống phía dưới, tương tự như động cơ xăng 2 kỳ, piston hoạt động như một van hút (nạp). Tại điểm chết dưới, piston mở cửa nạp để khí lọt vào. Khí đã bị nén bởi Turbin tăng áp hoặc cụm tăng áp (mầu xanh nhạt). Trục khuỷu được bao bọc bởi dầu nhớt, tương tự như động cơ 4 kỳ.

Quy trình của động cơ 2 kỳ Diesel như sau:
  • Khi piston tại điểm chết trên, xi lanh được làm đầy bởi khí nén. Dầu Diesel được phun dạng sương mù vào xi lanh bởi kim phun và ngay lập tức đốt cháy do nhiệt độ cao và áp xuất rất cao bên trong xilanh (Tỷ số nén của động cơ diesel vào khoảng 15-25, cao hơn nhiều so với động cơ xăng từ 9 đến 13). Quy trình này giống như quy trình mô tả trong phần Nguyên lý hoạt động của động cơ diesel
  • Áp xuất được tạo ra bởi hỗn hợp bị đốt cháy trong buồng đốt sẽ đẩy piston chuyển động xuống. Đây là kỳ sinh công.
  • Khi piston gần đến điểm chết dưới của hành trình, các cửa van xả đều mở. Khí xả sẽ đi ra ngoài khỏi xi lanh, giải phóng áp xuất.
  • Khi piston tại điểm chết dưới, piston mở các cổng hút khí. Khí nén tràn vào đầy xi lanh, đẩy số khí xả còn lại ra ngoài.
  • Van xả đóng lại và piston bắt đầu chuyển động ngược lại, đóng cửa cổng hút gió nà nén số khí vừa mới nạp lại. Đây là kỳ nén.
  • Khi piston chuyển động gần đến điểm chết trên của xi lanh, quy trình lại lặp lại từ bước 1.
Với mô tả trên, có thể thấy sự khác biệt lớn giữa động cơ Diesel 2 kỳ và động cơ xăng 2 kỳ. Trong động cơ Diesel, chỉ có khí được nạp vào xi lanh, khác hẳn khí và nhiên liệu được hoà trộn ở động cơ xăng 2 kỳ. Điều đó có nghĩa là động cơ Diesel 2 kỳ không phải gánh chịu vấn nạn môi trường như là động cơ xăng 2 kỳ. Tuy nhiên, một động cơ Diesel 2 kỳ phải có Turbin tăng áp hay Cụm tăng áp, do vậy giá thành của động cơ Diesel 2 kỳ rất cao, và điều này đã làm cho loại động cơ này không thể lắp rộng rãi như các loại động cơ khác được.

Rudolf Diesel - Ông là ai???

Rudolf Diesel (tên đầy đủ Rudolf Christian Karl Diesel; 1858–1913) là một nhà phát minh và kỹ sư người Đức.

Cuộc đời

Ông Diesel sinh ngày 18 tháng 3 năm 1858 tại Paris. Năm 1872 Diesel quyết định trở thành một kỹ sư và là học sinh tốt nghiệp giỏi nhất các khóa đào tạo tại trường dạy nghề (1873) và trường công nghiệp (mùa hè 1875). Sau đó ông bắt đầu học đại học tại trường Đại học Kỹ thuật München. Tháng 1 năm 1880 ông thi tốt nghiệp tại trường Đại học Kỹ thuật München với điểm tốt nhất từ khi thành lập trường.
Ngày 27 tháng 2 năm 1892 Diesel đăng ký tại cơ quan về bằng phát minh của Đế chế Đức và ngày 23 tháng 2 năm 1893 ông nhận được bằng phát minh DRP 67 207 "về qui trình làm việc và cách chế tạo cho máy đốt". Bằng phát minh thứ hai của ông (DRP 82 168, ngày 29 tháng 11 năm 1893) sửa đổi qui trình của động cơ nhiệt Carnot.
Bắt đầu từ năm 1893 Rudolf Diesel phát triển động cơ Diesel trong nhà máy cơ khí Ausburg (sau này là MAN AG) với sự tham gia về tài chính của công ty Friedrich Krupp. Năm 1897 mô hình động cơ diesel đầu tiên có thể hoạt động được hoàn thành.
Ngày 1 tháng 1 năm 1898 nhà máy động cơ Diesel Ausburg được thành lập, sau đó là Diesel Engine Company vào mùa thu năm 1900 tại London (Vương quốc Anh). Tàu thủy được trang bị động cơ diesel đầu tiên ra đời năm 1903. Năm 1908 động cơ Diesel loại nhỏ đầu tiên, xe tải và đầu tàu hỏa diesel đầu tiên được chế tạo. Động cơ diesel dùng cho ô tô được chế tạo hằng loạt lần đầu tiên trong năm 1936 và được trang bị cho chiếc Mercedes-Benz 260-D.
Ngày 29 tháng 9 năm 1913 Rudolf Diesel lên tàu "Dresden" tại Antwerpen (Bỉ) đi London trên eo biển Manche để tham dự buổi họp mặt của Consolidated Diesel Manufacturing Ltd. Sau đấy người ta không còn thấy ông nữa. Vào ngày 10 tháng 10 thủy thủ của tàu Hà Lan "Coertsen" nhìn thấy một thi thể trôi dạt trên biển trong lúc biển động mạnh. Họ không thể vớt được thi thể mà chỉ có thể vớt được một vài vật nhỏ như ví tiền, dao bỏ túi và bao đựng kính mắt, những vật được Eugen Diesel, con trai của Rudolf Diesel, nhận dạng vào ngày 13 tháng 10 tại Vlissingen (tây nam Hà Lan).
Tình huống dẫn đến cái chết của Rudolf Diesel không được làm sáng tỏ, gia đình của ông hoài nghi giả thuyết cho rằng ông đã tự tử và tin rằng ông đã bị giết chết. Một giả thuyết cho rằng nước Đức lúc bấy giờ đã cho người giết chết ông vì chiến tranh đang đến gần kề và Rudolf Diesel đã cấp giấy phép về kỹ thuật Diesel cho nước Pháp và Anh, là hai quốc gia địch thủ lúc bấy giờ. Một giả thuyết khác cho rằng diesel đã bị ngành công nghiệp dầu cho người ám sát vì ông đang phát triển loại động cơ diesel sinh học. Mặc dầu vậy việc ông tự tử cũng được cho là rất có thể vì ông đang đứng trước sự sụp đổ về tài chính. Sau cái chết của Rudolf Diesel việc nghiên cứu về động cơ diesel sinh học bị chấm dứt và chỉ còn loại động cơ diesel dùng dầu diesel có nguồn gốc hóa thạch là được tiếp tục phát triển.

blog.yume.vn
Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Các cơ cấu chính của động cơ Diesel

Động cơ điêzen có ưu điểm là tiêu thụ nhiên liệu ít hơn động cơ xăng do hao hụt bơm nhiên liệu ít hơn và tỷ lệ nén cao .Chúng ta cùng tìm hiểu về các cơ cấu chính của động cơ Diesel


1. Pít tông
Pít tông của động cơ điêzen được chế tạo chắc chắn do áp suất nén, nhiệt độ đốt cháy và do áp suất đốt cháy cao hơn của động cơ xăng. Ở một số kiểu động cơ, vành chắn nhiệt được đặt ở trên rãnh xéc-măng số 1 hoặc phần đầu pít tông đến rãnh xéc-măng số 1 được làm bằng FRM là một hợp kim đặc biệt được làm từ nhôm và các sợi gốm. Một số pít tông lại có rãnh làm mát bên trong đầu pít tông để làm mát rãnh xéc-măng số1. Dầu được phun vào từ vòi phun dầu, qua rãnh làm mát này và làm mát pít tông.

2. Xéc măng

Có các loại xéc-măng sau:


Xéc-măng số 1 (Xéc măng hơi số 1)


A. Xéc măng có vát mặt trên


Xéc-măng số 2 (Xéc măng hơi số 2)


B. Xéc măng côn


C. Xéc măng côn-cắt phía dưới


Xéc-măng số 3 (Xéc măng dầu)


D. Xéc măng có lò-xo


E. Xéc măng loại 3 vòng


Vai trò của xéc măng có vát mặt trên :

Bề mặt trên cùng của xec-măng được làm côn để ngăn xéc-măng không bị dính muội than. Khi động cơ chạy, pít tông cũng chuyển động một chút theo chiều ngang, làm khe hở giữa rãnh xéc-măng và xéc măng thay đổi. Điều này làm bong muội than bên trong rãnh xéc-măng và đẩy chúng ra ngoài rãnh xéc-măng cùng với dầu.


3. Buồng đốt

Trong động cơ điêzen, nhiên liệu được phun vào dưới dạng sương từ vòi phun và trộn với không khí được đánh lửa và đốt cháy. Để giai đoạn đốt tốt thì nhiên liệu đưa vào và không khí cần phải trộn đều trong buồng đốt.


Buồng đốt kiểu phun nhiên liệu trực tiếp

Trong buồng đốt kiểu phun nhiên liệu trực tiếp, buồng đốt chính được tạo thành giữa nắp quy lát và pít tông. Với kiểu này, nhiên liệu được đốt cháy bằng cách phun nhiên liệu nén ở áp suất cao vào không khí ở nhiệt độ và áp suất cao.


Do cấu trúc đơn giản, công suất cao, hiệu suất nhiệt cao và hao mòn làm mát thấp, tiêu thị năng lượng nhỏ và tính dễ khởi động cao.


Do đó, một số động cơ sử dụng bộ sấy không khí nạp hoặc bugi sấy mặc dầu một số động cơ không có hệ thông sấy nóng sơ bộ.


Khi áp suất cháy tăng lên, độ ồn và độ rung trong khi chạy cũng tăng.


Buồng đốt kiểu xoáy lốc

Buồng đốt này gồm có buồng xoáy hình cầu và buồng đốt chính. Những buồng này được nối thông với nhau. Dòng không khí xoáy được tạo ra trong buồng xoáy trong hành trình nén, đốt và cháy phần lớn nhiên liệu. Sau đó một phần nhiên liệu còn lại cháy trong buồng đốt chính.


Bằng cách này động cơ có thế chạy tốt do tốc độ tối đa hoặc áp suất nén cao hơn hoặc dải điều chỉnh tốc độ rộng. Tuy nhiên, nhiệt độ của không khí bên trong buồng xoáy giảm vì nắp quy lát hấp thụ nhiệt. Do đó, tính dễ khởi động kém hơn so với loại đốt cháy trực tiếp. Điều này giải thích tại sao phải sử dụng bugi sấy trong hệ thống sấy nóng sơ bộ.


5. Áo xi-lanh

Xi-lanh được chia làm hai loại: loại không có áo và loại có áo xi-lanh gắn vào thân máy.


Loại có áo xi lanh

Có hai loại áo xi-lanh: loại ướt trong đó nước làm mát tiếp xúc trực tiếp mặt sau, và loại khô trong đó nước làm mát không tiếp xúc trực tiếp.


Đỉnh của áo xi-lanh được làm nhô ra một chút trên đỉnh mặt thân máy.


Phần nhô ra này (A) ngăn rò rỉ khí, nhờ lún sâu vào gioăng nắp quy lát.


Loại không áo xi lanh

Loại không áo dùng gang hợp kim đặt biệt chống mòn tốt hơn. Động cơ được làm gọn nhẹ hơn nhờ thu hẹp khoảng cách giữa các lỗ xi-lanh.


Thân máy của hầu hết các động cơ điêzen được làm bằng gang. Gần đây, một số động cơ đã sử dụng thân máy làm bằng nhôm có gắn áo xi lanh.


6. Gioăng nắp quy lát

Giữa thân máy và nắp quy lát đặt một gioăng nắp quy lát.


Tấm gioăng này ngăn khí cháy, nước làm mát, dầu không rò rỉ giữa thân máy và nắp quy lát. Nó phải chịu được áp suất, chịu nhiệt và có độ đàn hồi thích hợp.


Gioăng nắp quy lát loại thép cán mỏng được dùng để tăng tuổi thọ của gioăng nắp quy lát do đó ngăn được sự rò rỉ khí cháy.


Lựa chọn độ dày của nắp quy lát để tăng độ chính xác tỷ số nén theo động cơ. Độ dày của gioăng nắp quy lát được xác định theo độ nhô của pít tông.


Ví dụ: Động cơ 3L


Động cơ 3L của toyota có 3 loại gioăng nắp quy lát.


Dấu B: 1.40 - 1.50 mm (0.0551 - 0.0591 in.)


Dấu D: 1.50 - 1.60 mm (0.0591 - 0.0630 in.)


Dấu F: 1.60 - 1.70 mm (0.0630 - 0.0669 in.)


7. Cơ cấu phối khí
Cơ cấu phối khí 4 xupáp

Về cơ bản, cơ cấu phối khí của động cơ điêzen giống như của động cơ xăng. Tuy nhiên mỗi động cơ lại có sự khác biệt. Cơ cấu phối khí 4 xupáp gồm cò mổ xu páp và cầu xupáp. Khi trục cam đẩy cò mổ lên thì cầu xupáp trượt dọc theo chốt dẫn hướng và đẩy cho hai xupáp đồng thời mở ra. Bằng cách này, một trục cam duy nhất có thể vận hành 4 xupáp cho một xi lanh. Thông qua việc sử dụng 4 xupáp, không chỉ giúp tăng hiệu quả xả và nạp mà còn có thể đặt vòi phun tại trung tâm buồng đốt.


Sử dụng hai vít điều chỉnh, (1) và (2) để điều chỉnh khe xupáp.


Chu kỳ thay thế đai cam

Tuỳ thuộc vào kiểu động cơ, cứ 100.000 km hoặc 150.000 km phải thay đai cam của động cơ điêzen. Trong một số xe, có đèn báo thay đai cam. Đèn này sẽ sáng lên vào thời điểm cần thay đai cam đã định trước. Sau khi thay đai cam, cần phải chỉnh lại đèn báo thay cam. Phương thức đặt lại tuỳ thuộc vào loại động cơ.


Ví dụ 1:


Tháo vòng đệm dưới đồng hồ đo tốc độ và đẩy núm đặt lại đèn báo bằng một que mảnh.


Ví dụ 2:


Tháo vít ngắt công tắc và lắp lại vào một lỗ lắp khác.


Oto-Hui theo tài liệu đào tạo của toyota

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Phân loại ôtô

Phân loại theo năng lương chuyển động và theo phương pháp dẫn động


Phân loại theo năng lương chuyển động
Xe ôtô có thể được phân loại thành các dạng sau tùy theo nguồn năng lượng chuyển động:
- Động cơ xăng

-Động cơ diesel
-
Động cơ lai (Hybrid)
-
Xe sử dụng năng lượng điện
-
Động cơ lai loại tế bào nhiên liệu

Xe sử dụng động cơ xăng
Loại xe ôtô này hoạt động bằng động cơ sử dụng nhiêu liệu xăng. Do động cơ xăng tạo ra công suất lớn đồng thời nó có kích thước nhỏ gọn, nên chúng được sử dụng rộng rãi trên các loại xe du lịch.

Ngoài ra người ta còn sử dụng động cơ CNG, động cơ LPG và động cơ chạy bằng cồn, chúng sử dụng các loại nhiên liệu khác nhau.

CNG: Khí ga nén tự nhiên
LPG: Khí ga hoá lỏng

1.Động cơ
2. Bình nhiên liệu (nhiên liệu xăng

Xe sử dụng động cơ diesel
Loại xe ôtô này hoạt động bằng động cơ sử dụng nhiêu liệu diesel. Do động cơ diesel tạo ra mômen xoắn lớn và có tính kinh tế nhiên liệu tốt, nên chúng được sử dụng rộng rãi trên các loại xe tải và xe SUV.
SUV: Xe đa dụng kiểu thể thao

1 Động cơ
2 Bình nhiên liệu (nhiên liệu diesel)

Xe sử dụng động cơ lai (Hybrid)
Loại xe ôtô này được trang bị với những nguồn năng lượng chuyển động khác nhau, như động cơ xăng và môtơ điện. Do động cơ xăng phát ra điện năng, loại xe ôtô này không cần nguồn bên ngoài để nạp điện cho ắc quy. Hệ thống dẫn động bánh xe dùng điện 270V, ngoài ra các thiết bị khác dùng điện 12V.


Ví dụ, khi khởi hành, xe sử dụng môtơ điện, môtơ này tạo ra công suất cao mặc dù tốc độ thấp. Khi xe tăng tốc, nó sẽ vận hành động cơ xăng, động cơ này có hiệu quả hơn ở tốc độ cao hơn. Bằng cách sử dụng tối ưu cả hai nguồn năng lượng chuyển động như trên, sẽ đạt được hiệu quả trong việc giảm ô nhiễm do khí xả và nâng cao tính kinh tế nhiên liệu.

  • Sơ đồ mô tả hệ thống Hybrid của Toyota (động cơ xăng và môtơ điện).

Xe ôtô sử dụng năng lượng điện (EV)

Loại xe ôtô này sử dụng nguồn điện của ắc quy để vận hành môtơ điện. Thay vì sử dụng nhiên liệu, ắc quy cần được nạp lại điện. Loại xe này mang lại nhiều lợi ích, như không gây ô nhiễm và phát ra tiếng ồn thấp khi hoạt động. Hệ thống dẫn động bánh xe dùng điện 290V, ngoài ra các thiết bị khác dùng điện 12V.


  • Sơ đồ mô tả hệ thống EV của Toyota.


1. Bộ điều khiển công suất

2. Môtơ điện

3. Ắc quy

Xe sử dụng động cơ lai loại tế bào nhiên liệu (FCHV)

Loại xe ôtô này sử dụng năng lượng điện tạo ra khi nhiên liệu hyđrô phản ứng với ôxy trong không khí sinh ra nước. Do nó chỉ thải ra nước, nó được coi là tốt nhất trong những loại xe có mức ô nhiễm thấp, và nó được tiên đoán sẽ trở thành nguồn năng lượng chuyển động cho thế hệ ôtô tiếp theo.


  • Sơ đồ mô tả hệ thống Hybrid tế bào nhiên liệu của Toyota.

1 Bộ điều khiển công suất

2 Môtơ điện

3Bộ tế bào nhiên liệu

4Hệ thống lưu Hyđrô

5Ắc quy phụ

Phần loại theo phương pháp dẫn động

Xe có thể được phân loại theo vị trí của động cơ, bánh xe chủ động và số lượng của bánh xe chủ động.




1 FF (động cơ đặt phía trước, cầu trước chủ động)


2 FR (động cơ đặt phía trước, cầu sau chủ động)


3 MR (động cơ đặt giữa, cầu sau chủ động)


4 4WD (4 bánh chủ động)

oto-hui.com

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Xăng (Gasoline)

Xăng (Gasoline), nhiên liệu cho động cơ ô tô, được tìm ra một cách tình cờ như là một sản phẩm phụ, và trở thành một nhiên liệu không thể thiếu cho đến ngày nay.


Trước những năm 1900, xăng được cho là một sản phẩm thải của nền công nghiệp dầu mỏ non trẻ trong quá trình sản xuất dầu đốt lò, thắp sáng, dầu nhờn và mỡ bò (grease). Động cơ đốt trong bốn thì, kích nổ bằng tia lửa điện được phát minh bởi Nicolaus Otto vào năm 1876 tại Đức. Động cơ này được chạy bằng xăng, tạo một nguồn lợi khổng lồ so với những thiết kế trước đó về trọng lượng, năng lượng và sự hiệu quả. Đến năm 1890, gần 50.000 động cơ này đã được bán. Khi sự phổ biến của những động cơ này phát triển theo tỉ lệ lũy thừa, nhu cầu sử dụng xăng cũng tăng theo. Nhu cầu sử dụng xăng năm 1915 tăng lên gấp 5 lần so với năm 1907.

Hình mô phỏng hoạt động của động cơ xăng

Những đặc tính kỹ thuật của xăng được quy định trong ASTM D4814.


Để động cơ ô tô đạt hiệu năng cao, xăng phải thỏa mãn những tiêu chuẩn kỹ thuật, tùy vào điều kiện địa lý, nhiệt độ và độ cao của nơi sử dụng. Nhiên liệu phải bay hơi dễ dàng và cháy hoàn toàn trong cylinder khi bugi phát lửa. Sự nổ sớm của nhiên liệu có thể gây hư hỏng cho động cơ. Nhiên liệu phải bền về mặt hóa học. Xăng không được tạo nhựa hay những chất polymer đọng lại, cũng không nên có tạp chất hay nước.


Tạp chất phải được ngăn chặn từ khâu sản xuất trong quá trình lọc và tất cả hệ thống phân phối cho đến trong bình xăng xe và bơm vào động cơ.


Trị số octane.

Trị số octane (Octane Number) là đơn vị đo chất lượng của chất lượng xăng.


Nói rộng ra, trị số octane là một thước đo khả năng chống kích nổ của xăng. Trong động cơ xăng, hơi xăng trong cylinder chỉ bốc cháy khi bugi phát tia lửa điện và xăng đã được nén đúng mức. Xăng có trị số octane thấp có khuynh hướng kích nổ trước.


Bởi vì cháy kích nổ được gây ra bởi những phản ứng hóa học trong động cơ, nên có thể nói cấu trúc hóa học đóng một vai trò quan trọng trong sự chống cháy kích nổ. Phản ứng tạo ra sự cháy kích nổ thường là phản ứng dây chuyền gốc tự do peroxy và hydroperoxy, khác với sự cháy bên trong ngọn lửa; và nó tạo nên một nhiệt độ cháy thấp hơn.


Độ bay hơi

Trong động cơ xăng, nhiên liệu phải ở thể hơi để quá trình đốt cháy xảy ra. Khả năng bay hơi của xăng được xác định bởi ba phép thử ASTM: Áp suất hơi bão hòa (Reid Vapor Pressure- RVP) theo ASTM D323, đường cong chưng cất theo D86 và tỉ lệ hơi/ lỏng ở một nhiệt độ xác định theo D2533.


Độ sạch.

Xăng tốt phải sạch cả về mặt hóa học và vật lý. Độ sạch hóa học nghĩa là nó không chứa cũng không phản ứng dưới điều kiện lưu trữ và sử dụng, để tạo ra những sản phẩm phụ không mong muốn như nhựa, cặn dầu. Độ sạch hóa học được bảo đảm bằng cách kiểm soát thành phần hydrocarbon và những phụ gia thích hợp. Độ sạch vật lý nghĩa là không có những chất rắn không tan hoặc lượng lớn nước trong xăng.


Ngoài ra, hàm lượng lưu huỳnh trong xăng cũng được quy định thấp hơn một mức độ cho phép tùy quốc gia và không có mercaptan. Xăng không được gây rỉ sét trong đường ống, trong bồn chứa hoặc phần tiếp xúc với xăng của xe cộ.




oto-hui.com

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Saturday, February 27, 2010

Danh sách các trung tâm đào tạo lái xe

Dưới đây là danh sách các trung tâm đào tạo lái xe ôtô tại Hà Nội và TP.HCM. Bản danh sách sẽ được cập nhật liên tục.

STT

Trung Tâm

1

Trung tâm đào tạo lái xe 83A Lý Thường Kiệt
ĐC: 83A Lý Thường Kiệt, Hà Nội
ĐT: 098.8069688

2

Trung tâm đào tạo học lái xe ô tô các hạng
ĐC: 59 Lê Duẩn, Hà Nội
ĐT: 04.9429872 - 091.9791519

3

Trung tâm đào tạo trường An Sinh
Địa chỉ : 83 Triều Khúc, Thanh Xuân ,Hà Nội
Điện thoại: 04. 5525958

4

Văn phòng Trung tâm Đào tạo lái xe.
ĐC: 124 Trung Kính - Trung Hòa - Cầu Giấy – Hà Nội.
ĐT: 844-7847574; 0918768686

5

Trung tâm Đào tạo và Sát hạch Lái xe Âu Lạc
ĐC: Số 3F2 Thái Hà, Q. Đống Đa - Hà Nội
ĐT: 04.8561722. Fax: 04.8563727

6

Công ty CP Giáo Dục Việt Nam – Trung tâm đào tạo lái xe
ĐC: Số 2A-Nhà A6, Trần Quốc Hoàn - Cầu Giấy – HN
ĐT: 04.7549260, 0983551083 - 0982787830

7

Trường Cao đẳng GTVT
Số 54 Phố Triều Khúc, Thanh Xuân - Hà Nội.
ĐT : 04.8547536 - 04.8544264

8

Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội
ĐC: tầng 1, nhà B3, khu B, xã Tây Tựu, Từ Liêm,Hà Nội.
ĐT: 04 7655355
Email:
trungtamdtlx@haui.edu.vn

9

Học viiện CSND
ĐC: 118B1-TT Thành Công, Ba Đình, Hà Nội
ĐT: 0427342424 - 090.8852388

10

Trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân I
Văn phòng: 124 Đường Láng - Đống Đa – Hà Nội.
ĐT: 04.7847574; 0918768686

11

Trung tâm dạy nghê quận 2
ĐC: 431 Nguyễn Thị Định, Cát Lái, Quận 2, Tp. HCM.
ĐT: 08.7420937 - 08.7420791- 08.7400804
Email: trungtamdaynghe2@hcm.vnn.vn

12

Trường Cao Đẳng GTVT III
ĐC: 569 Kinh Dương Vương, P.12, Q.6, TPHCM

13

Trường Cao Đẳng KT Đối Ngoại
ĐC: 81 Trần Bình Trọng, Q.5, Tp. HCM.

14

Trường Dạy Nghề Số 7 - Quân Khu 7
ĐC: 557 Nguyễn Tri Phương, P.14, Q.10, Tp. HCM.

15

Trường KTCN Hùng Vương
ĐC: 161-163 Nguyễn Chí Thanh, P.12, Q.5, Tp. HCM.

16

Trường Trung Học GTVT TW3
ĐC: 380 Văn cao, F.18, Q.TB, Tp. HCM.

17

Trường TH KTNV Nam Sài Gòn
ĐC: 3-5 Huỳnh Thị Phụng, F.4, Q.8, Tp. HCM.

18

Trường TH KTNV Nguyễn Hữu Cảnh
ĐC: 58 Huỳnh Tấn Phát, P. BHnh Thuận, Q.7, Tp. HCM.

19

Trường Trung Học GTCC
ĐC: 252 Lý Chính Thắng, P.3, Q.3, Tp. HCM.

20

TT KTTH - Trường ĐH SPKT
ĐC: 01-03 Võ Văn Ngân, Q.Thủ Đức, Tp. HCM.

21

TTDN & ĐTLX - Trường ĐH CSND
ĐC: 179A Kha Vạn Cân, Q.Thủ Đức, Tp. HCM.

22

TTDN & ĐTLX - Trường TH CSND II
2B Đặng Văn Bi, P.Trường Thọ, Q. Thủ Đức, Tp. HCM.

23

TTDN Quận 12
ĐC: 592 Nguyễn Ảnh Thủ, P.TMT, Q.12, Tp. HCM.

24

TTDN Quận Bình Thạnh
ĐC: 235 Phan Văn Trị, Q. Bình Thạnh, Tp. HCM.

25

TT DVVL Thành Phố
ĐC: 153 Xô Viết Nghệ Tỉnh, Q.Bình Thạnh, Tp. HCM.

26

Trung Tâm DVVL VIHEMPICH
ĐC: 189 Nguyễn Oanh, P.10, Q.GV, Tp. HCM.

27

Trường DN Tư Thục LX Bách Khoa
ĐC: 105 Bà Huyện Thanh Quan, P.7, Q.3, Tp. HCM.

28

Trường DN Tư Thục LX Cửu Long
ĐC: 220/2 Nguyễn Trọng Tuyển, P.8, Q.PN, Tp. HCM.

29

Trường DN Tư Thục LX Thăng Long
ĐC: 464 Lý Thái Tổ, Q.10, Tp. HCM.

30

Trường DN Tư Thục LX Thế Giới
ĐC: 46 Tản Đà, P.10, Q.5, Tp. HCM.

31

Trường DN Tư Thục LX Thống Nhất
ĐC: 17 Nguyễn Kim, P.12, Q.5, Tp. HCM.

32

Trường DN Tư Thục LX Tiến Bộ
ĐC: 111 Tân Sơn NhH, P.14, Q.TB, Tp. HCM.

33

Trường DN Tư Thục LX Sài Gòn
ĐC: 232/29 Cộng Hoà, P.12, Q.TB, Tp. HCM.

34

Công Ty TNHH TM&DV Thịnh Hòa (THC)
ĐC: 312 Âu Cơ, Phường 10, Q.Tân Bình, Tp. HCM.

35

Công Ty Vận Chuyển Sài Gòn Tourist
ĐC: 99C Phổ Quang, Phường 2, Q.Tân Bình, Tp. HCM.

36

Công Ty TNHH Hoàng Gia C.O.M
ĐC: 39 Nguyễn Thiện Thuật, P.2, Q.3, Tp. HCM.

Theo lenduong.vn

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Tra cứu bản đồ trực tuyến

Diadiem.com - nơi tra cứu bản đồ rất hữu ích

Nếu các bạn muốn xem bản đồ, tìm kiếm địa điểm hay đường đi đến một nơi nào đó thì http://diadiem.com là một sự lựa chọn rất hữu ích. Ngoài tìm kiếm đường đi và địa điểm thì trang web này còn cung cấp các dịch vụ khác như tìm kiếm công ty, tra cứu số điện thoại….

Ví dụ tôi đang ở TP HCM và muốn tìm đường đi từ số 366 Nguyễn Trãi đến 799 Trần Hưng Đạo thì trong phần tìm đường đi tôi nhập vào thông tin như sau, nếu nhớ cụ thể tên quận và phường thì tốt còn không thì cứ để trống:

Sau khi nhấn nút “Tìm” thì đây là kết quả:

Kết quả tìm kiếm chỉ rõ đường đi trên bản đồ bằng đường nét vẽ màu đỏ, ngoài ra ở khung bên phải sẽ hiển thị tên từng con đường, khoảng cách bao nhiêu, rẽ trái hay rẽ phải, khoảng cách tổng cộng và thời gian dự đoán từ điểm đi tới điểm đến.

Ngoài ra bạn cũng có thể phóng to hay thu nhỏ bản đồ, xem bản đồ bằng hình vẽ, vệ tinh hoặc cả hai.

Hiện tại thì http://diadiem.com hỗ trợ các tỉnh và thành phố sau:

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Lịch trình các tuyến xe buýt tại Hà Nội

Các tuyến xe bus tại Hà nội

Công ty vận tải và dịch vụ công cộng Hà Nội
5 Lê Thánh Tông 843.6393
Tuyến xe buýt
Tuyến đường

Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 1
Long Biên - Hà Đông
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 2
Bác Cổ - Ba La
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 3
Bến xe Giáp Bát - Bến xe Gia Lâm
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 4
Long Biên - Lĩnh Nam
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 6
Kim Liên - Thường Tín
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 7
Trần Khánh Dư - Nội Bài
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 8
Long Biên - Ngũ Hiệp
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 9
Công viên Thủ Lệ- Công viên Thủ Lệ
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 10
Bác Cổ - Từ Sơn
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 11
Công viên Lê Nin - ĐH Nông nghiệp 1
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 12
Kim Mã - Định Công - Văn Điển
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 14
Bờ Hồ - Cổ Nhuế
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 15
Long Biên - Đa Phúc
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 16
Bến xe Giáp Bát - Hoàng Quốc Việt
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 17
Long Biên - Nội Bài
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 18
Bách Khoa - Bách Khoa
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 19
Trần Khánh Dư - Hà Đông
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 20
Trần Khánh Dư - Phùng
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 21
Bến xe Giáp Bát - Bến xe Hà Đông
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 22
Bến xe Gia Lâm - Viện quân y 103
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 23
Vân Hồ - Vân Hồ
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 24
Long Biên - Long Biên
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 25
Bến xe Giáp Bát - Xuân Đỉnh - Bến xe nam Thăng Long
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 26
Mai Động - Diễn
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 27
Bến xe Hà Đông - Bến xe Nam Thăng Long
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 28
Bến xe Giáp Bát - Đông Ngạc
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 29
Bến xe Giáp Bát - Định Công - Tây Tựu
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 30
Trần Khánh Dư - Hoàng Quốc Việt
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 31
Mai Động - Chèm (Đại học Mỏ)
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 32
Giáp Bát - Nhổn
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 34
Tuyến xe buýt tiêu chuẩn số 34
Bến xe Nam Thăng Long - Bến
Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Ưu điểm của hệ thống dẫn động bốn bánh

Ưu điểm của hệ thống dẫn động bốn bánh

Với những kiểu như 4 bánh toàn thời gian hay bán thời gian, việc lựa chọn hoàn toàn phụ thuộc vào phong cách lái và điều kiện sử dụng bởi chúng có ưu, nhược điểm riêng.

Động cơ sinh ra công suất và mô-men xoắn. Để truyền năng lượng tới các bánh khiến chúng quay, chiếc xe của bạn cần phải có cơ cấu dẫn động. Tuy nhiên, không phải tất cả các bánh đều trực tiếp nhận công suất và mô-men xoắn từ động cơ. Tùy thuộc yêu cầu kỹ thuật giữa các loại xe và tại từng thời điềm mà người ta có những phương pháp truyền động khác nhau như một cầu (cho 2 bánh) và 2 cầu (cho 4 bánh). Dưới đây là ưu nhược điểm của các loại dẫn động 4 bánh.

Dẫn động 4 bánh bán thời gian (Part-time 4WD)

Đây hệ dẫn động phổ biến nhất trên các mẫu xe địa hình. Nó hoạt động sau khi tài xế nhấn nút hoặc chuyển chế độ từ ca-bin. Lúc đó, mô-men xoắn được truyền tới cả 4 bánh. Còn khi chưa được kích hoạt, năng lượng từ động cơ được truyền tới hai bánh trước hoặc sau.

Hệ dẫn động 4 bánh trên xe Hummer.
Hệ dẫn động 4 bánh trên xe Hummer.

Khi tài xế chuyển chế độ từ 2 bánh sang 4 bánh trên hộp số phụ, trục trước và trục sau khóa lại với nhau, dẫn đến các bánh trước và bánh sau quay với cùng một tốc độ, giúp cải thiện độ bám đường trong điều kiện xe đi thẳng.

Trước khi có vi sai trung tâm, hệ dẫn động này gần như không có cách nào để các bánh quay với vận tốc khác nhau, tại những khúc cua. Vì vậy, rất ít khi tài xế kích hoạt chế độ 2 cầu trừ khi xe di chuyển trên những mặt đường trơn trượt (như trên tuyết) hoặc sa lầy.

Nếu cố gắng lái một chiếc xe trên đường khô, khi chế độ 4 bánh được kích hoạt, bạn sẽ cảm thấy khó khăn và bánh cứng lại khi chuyển hướng. Ngoài ra, điều này có thể làm hỏng các thiết bị trong bộ truyền động và khiến lốp mòn nhanh hơn.

Hệ dẫn động 4 bánh bán thời gian có những điểm đáng lưu ý cần thiết cho những ai đang sử dụng. Đặc điểm đầu tiên là ở chế độ bình thường, xe dẫn động thông qua một cầu (2WD), thông thường là cầu sau.

Việc cài cầu hoặc cắt cầu hoàn toàn do tài xế. Khi chuyển sang chế độ 4WD, năng lượng từ động cơ được truyền cho cả 4 bánh. Trong điều kiện cần thiết, lái xe có thể chọn chế độ 2 cầu số chậm để cải thiện mô-men xoắn. Hệ dẫn động 4 bán bán thời gian không bao gồm vi sai trung tâm và được khuyến cáo là không sử dụng trên mặt đường khô hay quá cứng.

Jeep là một trong những mẫu xe đặc trưng sử dụng kiểu 4WD bán thời gian.

Ưu điểm của hệ dẫn động 4 bánh bán thời gian là đơn giản nên so với các hệ dẫn động 4 bánh khác, giá thành thấp và không quá phức tạp. Điều này giải thích vì sao nó lại xuất trên những mẫu xe rẻ tiền và ở cấp thấp. Một lợi thế nữa là nó không làm tốn xăng so với kiểu dẫn động 4 bánh toàn thời gian.

Các mẫu trang bị dẫn động 4 bánh bán thời gian thường có yêu cầu khắt khe là tài xế phải dừng trước khi chuyển từ chế độ 2 bánh sang 4 bánh. Nó khiến người lái phải chịu trách nhiệm hoàn toàn vào quyết định cài cầu của mình, tùy thuộc vào địa hình và thời tiết. Cũng như vậy, chuyện cắt cầu cũng quan trọng không hề kém.

Dẫn động 4 bánh thường xuyên (Permanent 4WD)

Khác với bộ 4WD bán thời gian, kiểu dẫn động này thuộc loại toàn thời gian, nghĩa là không có chế độ một cầu chủ động. Năng lượng từ động cơ luôn luôn được truyền tới 4 bánh. Tài xế được hưởng những lợi thế của hệ 4WD trong mọi điều kiện về địa hình mà không cần lựa chọn chế độ một cầu hay hai cầu.

Ở kiểu này, hệ dẫn động có vi sai trung tâm nên xe hoàn toàn có thể di chuyển trên mặt đường khô mà không sợ hỏng các thiết bị hoặc bánh bị cứng khi vào cua. Trên một vài mẫu, vi sai trung tâm có thể bị khóa khi cần độ bám đường, như khi vượt địa hình.

Về mặt kỹ thuật, vi sai trung tâm là bộ truyền bánh răng hành tinh, có nhiệm vụ đảm bảo cho các bánh xe hai bên quay với tốc độ khác nhau khi vào cua, hoặc trên đường không bằng phẳng.

Ưu điểm của dẫn động 4 bánh thường xuyên là không bắt tài xế phải lựa chọn, vì vậy, họ có thể tập trung cho việc điều khiển xe.

Ở điều kiện làm việc bình thường, 95% mô-men xoắn của Porsche Carrera được đưa xuống bánh sau.
Ở điều kiện làm việc bình thường, 95% mô-men xoắn của Porsche Carrera được đưa xuống bánh sau.

Tuy nhiên, vấn đề của hệ dẫn động này là nó ăn khá nhiều xăng so với các kiểu khác. Trong một vài trường hợp, khi vi sai trung tâm bị khóa có thể khiến việc cầm lái vất vả, do xe có xu hướng di chuyển thẳng về phía trước hơn là chuyển hướng.

Ngoài ra, do cần nhiều thiết bị nên giá thành có thể cao hơn loại dẫn động 4 bánh bán thời gian. Hiện nay, vẫn có những nhà sản xuất trung thành với kiểu 4WD thường xuyên như Land Rover.

Dẫn động toàn thời gian (full-time 4WD)

Hệ dẫn động 4 bánh toàn thời gian (full-time 4WD) tự động phân bổ mô-men xoắn tới các trục khi cần độ bám đường. Tài xế có thể cài đặt chế độ "Auto 4WD" để xe tự quyết định khi nào kích hoạt hoặc ngừng kích hoạt chế độ 4 bánh.

Ưu điểm lớn nhất của hệ thống này là xe sẽ tự quyết định việc phân bổ mô-men xoắn tới trục nào nên tài xế có thể tập trung lái. Tuy nhiên, điểm yếu là trong những trường hợp địa hình rất hiểm trở, nó cản trở khả năng của tài xế.

Chẳng hạn như do phản ứng nhanh và hoàn toàn tự động nên tài xế gần như không thể tự chủ khi vượt chướng ngại vật. Trong khi đó, với kiểu bán thời gian thì họ có thể gài cầu chậm hoặc nhanh tùy theo tình hình.

Hơn nữa, kiểu dẫn động này khá phức tạp, nhiều thiết bị nên đắt hơn.

Dẫn động tất cả các bánh (All-wheel drive)

Kiểu AWD giống như dạng dẫn động 4 bánh thường xuyên, tức là năng lượng được truyền liên tục tới các bánh. Không có cách nào để tắt chức năng này. Một đặc điểm nữa là AWD không cần hộp số phụ.

AWD có xu hướng tích hợp thành một gói với trọng lượng nhỏ hơn so với các kiểu truyền thống. Nguyên lý vận hành của nó là phân bổ mô-men xoắn tới các cầu tùy theo địa hình. Chẳng hạn như chiếc Porsche 911 Carrera ở điều kiện bình thường có 5% mô-men được đưa tới cầu trước và 95% còn lại xuống cầu sau. Ở những tình huống cần mô-men tới cầu trước, hệ thống sẽ phân bổ lại sao cho độ bám đường ở mức tốt nhất.

AWD có mức tiêu hao nhiên liệu khá tốt so với các kiểu dẫn động khác. Đồng thời, do nhỏ gọn nên các kỹ sư không cần phải đưa gầm xe lên cao. Cuối cùng là do máy tính tự đảm nhiệm nên tài xế có thể yên tâm lái ở mọi địa hình.

Tuy nhiên với giới mê khám phá, kiểu AWD không mấy thú vị vì nó không có hộp số phụ. Vì vậy, họ không thể tự chủ trong việc điều khiển xe mà phải phó mặc hoàn toàn cho máy tính.

Nguyễn Nghĩa (theo MSN) - Vn Express
Ảnh: MSN

Thực hành lái xe Ôtô:

Các bài viết liên quan:

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Ưu điểm của hộp số tự động

Ưu điểm của hộp số tự động

Hộp số tự động càng nhiều cấp càng tiết kiệm nhiên liệu. Tuy nhiên, tương lai của công nghiệp ôtô có thể phụ thuộc vào kiểu số tay nhưng điều khiển bằng máy tính mang tên DSG.

Khi muốn nâng cao khả năng tiết kiệm nhiên liệu, hầu hết mọi người đều quan tâm tới cải tiến động cơ, sử dụng công nghệ lai hybrid hay nhiên liệu hỗn hợp, mà không nghĩ tới những điều khác.

Trên thực tế có một bộ phận đóng vai trò quan trọng đối với khả năng tiêu thụ nhiên liệu. Đó là hộp số tự động, vốn thường bị coi là tốn xăng và giảm tính năng của xe.

Những năm gần đây, hộp số tự động 3 và 4 cấp dần được chuyển thành loại 5 và 6 cấp. Ngoài ra còn có loại hộp số vô cấp CVT, mới được thương mại hóa rộng rãi. Một trong công nghệ mới nhất là hộp số bán tự động DSG của Volkswagen.

Mặt cắt hộp số DSG. Ảnh: Wikipedia.

Mặt cắt hộp số DSG. Ảnh: Wikipedia.

Mỗi hãng có quan điểm khác nhau về kiểu hộp số tự động. Mercedes sử dụng loại 7 cấp trên hầu hết các sản phẩm của mình. Lexus thì dùng loại 8 cấp, hộp số nhiều cấp nhất hiện nay trên thế giới cho mẫu hạng sang LS-series. General Motors và Ford từng "nhúng tay" vào hệ dẫn động CVT nhưng giờ đây lại tập trung vào kiểu 6 cấp.

Tại sao lại cần nhiều cấp đến vậy? Với hộp số càng nhiều cấp, khoảng tỷ số truyền càng có thể nới rộng. Ở số thấp, tỷ số truyền thấp khiến xe tận dụng được mô-men xoắn từ động cơ. Nhờ đó, tăng tốc tốt hơn mà không cần nhấn quá nhiều chân ga.

Do việc tăng tốc dễ nên động cơ không cần làm việc quá nhiều, giúp cải thiện mức tiêu hao nhiên liệu. Những động cơ có dung tích nhỏ thậm chí có tính năng không thua kém xe cỡ lớn nếu sử dụng hộp số nhiều cấp hơn.

Ford tuyên bố hộp số của mình có khả năng tiết kiệm từ 4% đến 6% so với kiểu 4 hoặc 5 cấp thông thường.

Ngoài ra, với hộp số nhiều cấp, tỷ số truyền ở số cao cao hơn nên đặc biệt hữu ích khi đi trên đường trường. Ở những nơi có thể sử dụng chức năng điều khiển hành trình thì hộp số nhiều cấp đặc biệt tiết kiệm nhiên liệu.

Ngoài ra, việc phân chia thành nhiều cấp giúp việc sang số nhẹ nhàng, êm ái hơn. Động cơ không bị chuyển trạng thái đột ngột, giúp tối ưu hóa quá trình hoạt động và gián tiếp giảm mức ăn xăng.

Bên cạnh hộp số tự động còn có loại vô cấp CVT. Hộp số vô cấp, đúng như tên gọi, là kiểu hộp số sử dụng những pu-li (tương tự ròng rọc với hai nửa hình chóp) và dây cua-roa để truyền động, Độ rộng của pu-li có thể thay đổi, cho phép dây cua-roa ở vị trí cao hay thấp. Việc thay đổi này có tác dụng thay đổi tỷ số truyền.

Kiểu hộp số CVT về cấu tạo có vẻ đơn giản nhưng thực tế công nghệ chế tạo lại hết sức phức tạp. Các chi tiết kim loại phải được tính toán và chế tác chính xác trong khi hệ thống điều khiển phải đảm bảo hộp số tương thích với tính năng của động cơ.

Hãng xe Mỹ Chrysler sử dụng CVT trên các hãng hạng nhỏ của mình từ khá lâu. Audi thì cung cấp dưới dạng thiết bị tùy chọn. Trong con mắt của các chuyên gia, Nissan mới là hãng đi đầu trong công nghệ CVT khi đưa thiết bị này lên hầu hết các mẫu sedan và thể thao đa dụng SUV. Chương trình trên chiếc SUV vừa trình làng Rogue tốt tới mức những tay lái thử khó có thể phân biện được giữa CVT và hộp số thường.

Điều đặc biệt là CVT vẫn có chế độ sang số bằng tay. Máy tính có thể ra lệnh cho dây cua-roa chuyển lên vị trí khác một cách đột ngột, không theo kiểu tuần tự. Tuy nhiên, các hãng vẫn khuyến cáo khả năng tiết kiệm xăng chỉ tốt ở kiểu tự động.

Với nhiều kiểu đang có mặt, vậy đâu là tương lai của hộp số? Nhiều chuyên gia cho rằng kiểu hộp số tay điều khiển bằng máy tính sẽ thống trị ngành công nghiệp xe hơi. Công nghệ này đang được Volkswagen thương mại hóa dưới ên gọi DSG. Hộp số này có 2 ly hợp nên còn gọi là kiểu ly hợp kép.

Khi nhấn chân ga, máy tính sẽ gài ly hợp thứ nhất, xe chuyển động. Khi sang số 2, ly hợp thứ nhất nhả và ly hợp thứ hai được kích hoạt. Để chuyển sang số 3, máy tính lại nhả ly hợp thứ hai và gài ly hợp thứ nhất và đưa từ số 1 lên số 3. Việc chuyển sang số 4 lại được ly hợp thứ hai đảm nhiệm.

Ở kiểu hợp kép, một ly hợp điểm nhiệm việc sang số lẻ (1, 3 và 5). Ly hợp còn lại đảm nhiệm sang số chẵn (2, 4 và 6). Ưu điểm của phương pháp này là động cơ luôn luôn nối với hộp số, không bị ngắt quãng khi tài xế đạp côn như kiểu số sàn thông thường.

Hộp số ly hợp kép (hay còn gọi là bán tự động) đang ngày càng phổ biến. Porsche đã sử dụng trên các mẫu xe đua. Audi và Volkswagen thì đối phó với việc Ford đang tận dụng công nghệ này. Hãng xe Mỹ đã tung ra hộp số Powershift, được cho là tiết kiệm 10% so với kiểu thông thường.

Nguyễn Nghĩa(VnExpress)-BanDuong

Thực hành lái xe Ôtô:

Các bài viết liên quan:

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

Mầm mống làm xe bị cháy

Mầm mống làm xe bị cháy

Liên tục trong thời gian qua, ở nước ta xảy ra hàng chục vụ xe hơi bốc cháy. Việc này không chỉ đe dọa tính mạng và gây thiệt hại cho chủ xe, mà nhiều khi còn làm ảnh hưởng đến danh tiếng của những hãng sản xuất có xe bị cháy. Autonet đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi với anh Trần Công Lương, phụ trách kỹ thuật của Euro Auto, để truy tìm “thủ phạm” tiềm ẩn gây ra hiện tượng nguy hiểm này.

Trong nhiều trường hợp xe bị cháy, người ta không tìm ra được nguyên nhân. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, việc tìm ra mầm mống tiềm tàng để hạn chế, tiến tới ngăn chặn rủi ro là việc không quá phức tạp và nằm trong tầm tay của chủ xe. Đôi khi, sự việc trở nên trầm trọng và nguy cơ rủi ro cao lại bắt nguồn từ chính nhận thức cũng như hiểu biết hạn chế của người sử dụng xe gây ra. Chúng ta cùng tìm hiểu:

Các mầm mống tiềm tàng

1. Hệ thống cung cấp nhiên liệu gặp sự cố: Đây được coi là nguyên nhân có khả năng gây rủi ro với tỷ lệ lớn nhất. Nhiên liệu từ bình chứa tới được buồng đốt là phải qua một hệ thống đường ống phức tạp với rất nhiều điểm nối và tiếp xúc. Các đường ống dẫn nhiên liệu qua năm tháng sẽ bị lão hóa và dạn nứt, hoặc các rắc co đã bị oải, mòn hay han rỉ làm hở các đầu nối giữa các điểm tiếp xúc ống với nhau. Nhiên liệu theo các khe hở đó chảy ra ngoài bám vào thành động cơ rồi nhanh chóng lan tỏa trong khoang máy. Nhiệt độ trong khoang máy lên quá cao do vận hành lâu hoặc có tia lửa điện do chập hoặc hở các dây điện sẽ làm cho nhiên liệu rò rỉ bốc cháy.

2. Dây dẫn và các thiết bị không đạt chuẩn: Việc lắp thêm còi, đèn cao áp với các dây dẫn chất lượng kém, không đạt tiêu chuẩn về công suất cũng là nguyên nhân dẫn đến các sự cố cháy xe. Trong vài năm trở lại đây, đã không ít trường hợp xe bị cháy toàn bộ cụm đèn pha trước chỉ vì chủ xe lắp bóng đèn siêu sáng (không phải bóng xe-non). Các loại bóng siêu sáng này (thường được nhập từ Trung Quốc) có công suất rất lớn, và tỏa nhiệt rất cao, trong khi hệ thống dây dẫn và chóa đèn được thiết kế theo bóng chuẩn với công suất thấp. Việc lắp bóng công suất cao không chỉ là nguyên nhân làm cháy cụm đèn mà còn có thể làm hư hỏng toàn bộ dây dẫn của hệ thống chiếu sáng, gây chập điện.

3. Hệ thống đánh lửa bị hở mạch: Dây cao áp của hệ thống đánh lửa cũng là bộ phận nhạy cảm trong khoang xe và cũng rất dễ gặp sự cố nếu sử dụng lâu ngày hoặc do thay thế loại chất lượng không đảm bảo. Dưới tác động của nhiệt độ cao trong khoang máy, cộng với việc chịu tải điện cao áp, đường dây này có thể bị lão hóa, dạn nứt hoặc bị chảy làm điện đánh ra ngoài làm cháy các bộ phận bằng nhựa hoặc cao su gần nó. Đặc biệt nguy hiểm là khi khoang máy lại bị dính nhiều dầu mỡ do lâu ngày không được vệ sinh và nhiên liệu rò rỉ (như đề cập ở trên).

4. Máy phát hay máy đề quấn lại không đảm bảo: Máy phát và máy đề là những bộ phận có thể bị hư hỏng bất ngờ trong quá trình sử dụng xe. Khi xảy ra trường hợp này, các chủ xe không nên tham rẻ mà mang xe đi sửa chữa để quấn lại cuộn máy phát hay máy đề tại những service không tin cậy. Việc sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền cộng với kỹ thuật yếu kém tại các “service vỉa hè” có thể là nguyên nhân dẫn đến hỏng hóc rồi cháy nổ chỉ sau một thời gian ngắn sửa chữa. Giải pháp tốt nhất là mang xe đến các trung tâm uy tín để khắc phục hoặc thay thế.

5. Các chất gây cháy, nổ trên xe: Bình ga, bình xịt giảm đau, nước hoa, bật lửa và một số loại hóa chất chứa ga khác là những thứ dễ cháy hoặc nổ, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt vào mùa hè. Nhiều người thường có thói quen để những vật dụng này trên xe khi đi tập thể thao hoặc đi du lịch, rất nguy hiểm. Theo lời khuyên của một số trung tâm nhận chuyển phát nhanh, một số mặt hàng nhạy cảm như nước hoa, dầu xịt… cần phải được bảo vệ cẩn thận trong hộp xốp kín và chắc chắn để cách nhiệt trước khi đưa vào trong xe.

Những điều cần lưu ý

1. Để có thể chủ động trong việc giảm nhẹ thậm chí là loại trừ các rủi ro có thể xảy ra, chủ xe trước hết phải tự nâng cao ý thức cũng như những hiểu biết cần thiết trong việc sử dụng xe hơi. Bên cạnh việc kiểm tra và bảo dưỡng xe định kỳ, chủ xe cũng cần kết hợp rửa xe và vệ sinh khoang máy thường xuyên. Thường xuyên chú ý tình trạng nước làm mát và dầu bôi trơn.

2. Trường hợp sửa chữa và nâng cấp xe, nên lựa chọn sử dụng dịch vụ của các cơ sở có uy tín và trách nhiệm. Khi thay thế và trang bị thêm các phụ kiện như đèn, còi, thiết bị âm thanh… cần chú ý nguồn gốc, xuất xứ, tính năng cũng như sự tương thích của thiết bị mới đối với xe.

3. Tuyệt đối không để các chất gây cháy nổ trong xe. Trong trường hợp cần thiết phải có một số thứ nhạy cảm như bật lửa ga, lọ nước hoa… phải chú ý bảo quản cẩn thận trong điều kiện mát mẻ, tránh để những vị trí có thể tiếp xúc với nhiệt độ cao.

P.V (AutoNet)-BanDuong

Thực hành lái xe Ôtô:

Các bài viết liên quan:

Read rest of entry

Download Tài liệu hướng dẫn tập huấn đào tạo lái xe
- Cẩm nang An toàn giao thông qua hoạt hình
- Tổng hợp tất cả các link hay nhất ôn luyện thi lái xe

 

Sát hạch lái xe trực tuyến Copyright © 2009 Shopping Bag is Designed by Ipietoon Sponsored by Online Business Journal